top of page

Bà người Việt màu đỏ, bà người Pháp màu xanh

Một cái nhíu mày của khách hàng khiến tôi nghĩ cả đêm.


“Mình lại làm gì sai à?”


Một câu đùa không hợp gu khiến tôi chối bỏ toàn bộ con người của chàng trai đang theo đuổi mình.


“Đúng là đồ văn hóa lùn, đến đùa cũng vô duyên.”


Một hành động lau bàn khiến tôi nghĩ đây là người ấy rồi.


“Chàng được giáo dục tốt quá, còn biết lau bàn cơ đấy, chắc là trân trọng phụ nữ lắm. Phải cho chàng nắm tay để trả ơn thôi.”


Hơn hai mươi năm cuộc đời tôi chỉ nhảy giữa hai cực: hoặc quá phòng vệ, hoặc quá bất cẩn, chẳng nhận biết được đâu là cân bằng.


Khi giao tiếp với người khác, cái đầu tôi lúc nào cũng trong trạng thái kiệt sức — hoặc giải thích liên tục vì sợ bị hiểu lầm, hoặc từ chối nói chuyện vì quá mệt để giải thích.


“Cha mẹ sinh con, trời sinh tính cách”. Tôi cho rằng mình xui xẻo vì bị trời ban cho tính cách này.


Nhưng cứ vài tháng một lần, các phiên bản nhí của tôi lại đến chơi dù chẳng được mời. Lúc là đứa mười tuổi, lúc là đứa sáu tuổi, lúc lại là đứa mười lăm tuổi. Chúng không nói gì, chỉ đem theo một đống DVD rồi chiếu phim tài liệu cho tôi xem.


Khách hàng nhăn mặt khiến tôi suy diễn, đứa mười tuổi chiếu cho tôi cảnh mẹ nó im lặng cả ngày vì nó vô tình làm mất ví. Nó tìm cách gợi chuyện, pha trò, chỉ để đổi lấy một nụ cười của mẹ.


Chàng trai đùa nhạt nhẽo khiến tôi khó chịu đến mức muốn đá chàng ta, đứa sáu tuổi chiếu cho tôi cảnh bà nó nói: “bạn trêu thì đừng chơi với bạn nữa, có thế thôi cũng khóc”.


Khi tôi rung rinh bởi hành động biết lau bàn của một chàng khác, đứa mười lăm tuổi chiếu cho tôi cảnh các chú vừa phì phèo thuốc lá, vừa sai vặt mấy đứa con gái nhỏ trong nhà.


Tính cách rối loạn, chẳng biết phân biệt tốt xấu này của tôi, rõ ràng không phải trời ban,


mà là được rèn luyện.


Những cơn đau hiện tại của tôi thực chất chỉ là vết thương cũ tái phát.


Mỗi một lần giao tiếp lại có một vết lộ ra. Các vết thương không mới, tôi chỉ không biết rằng chúng tồn tại.


Cảm giác mình không đủ tốt đến từ một tuổi thơ hay bị chê bai, trách móc.


Tại sao ông bà cứ thích “thương cho roi cho vọt”?


Nếu biết trước cái roi vọt ấy sẽ biến các con mình thành những đứa thần kinh bất ổn, cha mẹ có tiếp tục làm vậy không?


Tôi luôn giữ niềm tin rằng: không một con người nào sinh ra, lại muốn nuôi dưỡng sự sống bằng cách làm đau người khác cả.


“Thương cho roi cho vọt” thực chất là một phương pháp sinh tồn.


Nó sai ở thời bình, nhưng lại đúng ở thời chiến.


Bà tôi chứng kiến người ta bắt cha mình đi. Lúc đó bà còn chưa đầy mười sáu tuổi.

Cô gái nhỏ không những bị tước đi người cha, mà căn nhà khang trang, ấm áp và con bò của gia đình cũng bị tịch thu mất. Đêm ấy cô nằm trong lán với các em, mấy đứa trẻ con ôm nhau khóc tới sáng. Hôm sau cô gặp lại con bò, người ta đang dẫn nó ra ruộng. Cô lẳng lặng bước tiếp nhưng rồi cũng ngoái đầu nhìn lại, cô thấy con bò cũng đang nhìn mình.


Cô ngoảnh mặt bước đi và không bao giờ quay đầu lại nữa.


“Có thế thôi cũng khóc?”


Bà nói sau khi thấy tôi mếu máo vì bị mấy đứa hàng xóm trêu. Thật ra tôi không muốn khóc chút nào, cái tôi muốn nói là:


“Con cảm thấy mình đang bị đe dọa, nếu được ôm một cái thì tốt biết mấy”.


Nhưng thứ ngôn ngữ duy nhất tôi biết là khóc. Đó là cách tôi mưu cầu sự an toàn.


Bà cũng muốn trao sự an toàn cho tôi, nhưng với bà thì an toàn chỉ đạt được khi ta kìm nén cảm xúc, đó là cách duy nhất bà biết.


Sau này mẹ cũng dạy tôi theo phương pháp y chang.


Còn tôi vẫn giữ thói quen gào khóc khi bất lực.


Rồi tôi quyết định chấm dứt nỗi đau này, bằng cách sử dụng những kiến thức gia đình dạy. Tôi thành thạo kỹ nghệ né tránh cảm xúc, thạo tới mức thành bản năng.


Hôm ấy tôi đang đi dạo ở một thị trấn nhỏ miền Bắc nước Pháp, đứng từ trên lan can nhìn xuống: ồ, một khu vui chơi trẻ em.


Trông họ hạnh phúc chưa kìa. Đứa bé đó mà khóc, chắc chắn bố mẹ nó sẽ ôm ấp, vỗ về. Nó sẽ còn được dạy cách diễn đạt suy nghĩ nữa. Lớn lên, vui buồn thế nào, nó có thể thoải mái nói ra mà không sợ bị trách móc, bỏ rơi.


Trong đầu tôi lại thoáng qua những lời của một anh bạn trai cũ người Tây Ban Nha:


“Sao em cứ không thể hiện cảm xúc gì vậy?”


“Người châu Á các em thật sự có vấn đề.”


“Anh còn chẳng biết em có yêu anh thật hay không nữa.”


“Giờ em nói gì anh cũng khó mà tin nổi. Thứ em nói ra không phải cảm xúc thật.”


Đứa sáu tuổi kia lại gõ cửa rồi bắt tôi xem phim.


“Con cảm thấy mình đang bị đe dọa, nếu được ôm một cái thì tốt biết mấy”.


Tôi muốn nói rằng: “Em đang cảm thấy rất cô đơn, giá được ôm một cái thì tốt biết mấy.”


Nhưng tôi không biết phải nói thế nào, đúng hơn là tôi không biết mình đang cảm thấy gì để mà nói ra.


Kỹ nghệ kìm nén này chính là công cụ bảo vệ mà gia đình trao cho tôi, nhưng hình như tôi không biết dùng món gia truyền này. Đáng lẽ vũ khí chỉ nên được sử dụng lúc khẩn cấp, nhưng tôi lại cứ kích hoạt nó 24/7. Tình yêu đâu phải một khoảnh khắc nguy hiểm?


Nghĩ tới đây thì một, hai giọt nước mắt rơi xuống. Ngôn từ đôi lúc không thể thoát ra, nhưng nước mắt thì vẫn rơi xuống được.


Tôi thở phào nhẹ nhõm. Ít nhất, cơ thể tôi còn biết xả.


Một bà cụ người Pháp bước đến, vũ khí phòng vệ của tôi lại bị bật lên.


Tôi phải nói gì bây giờ? Kể hết lịch sử Việt Nam cho bà? Ôm mặt bỏ chạy?


Nhưng bà người Pháp chỉ cười rồi nói gì đó mà tôi chẳng hiểu. Tôi đoán bà đang cố an ủi tôi. Cháu của bà thật là một đứa trẻ may mắn!


Tôi nghĩ tình yêu đó được dệt bằng những sợi chỉ xanh.


Nhưng bà tôi lại chỉ có chỉ đỏ.


“Con phải chứng minh mình đủ tốt thì mới được yêu”.


Đó là thông điệp tôi nhận được từ những sợi chỉ đỏ. Bà đã làm như vậy ở thời chiến và nó hiệu quả.


Tôi nghĩ đến những sợi chỉ đỏ bà tôi trao, và những sợi chỉ xanh tôi chưa từng có đủ.


Có lẽ, tôi đã mang chỉ đỏ đi dệt những mối quan hệ cần chỉ xanh.


Và cứ thế, tôi học cách hiểu sai người khác, rồi gọi đó là tính cách của mình.

 
 
 

Bình luận


bottom of page